Tin tức Xuất nhập khẩu 

Hướng dẫn Luật Thuế XK, thuế NK (sửa đổi): Quy định cần được mở hơn

Góp ý vào dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế XK, thuế NK sửa đổi do Tổng cục Hải quan tổ chức giữa tuần qua, Hải quan một số tỉnh, thành phố phía Bắc cho rằng, nhiều quy định cần được mở hơn nữa để vừa tạo điều kiện cho DN, vừa tránh cho cơ quan thực thi khó áp dụng.

Nhiều quy định tại dự thảo Nghị định cần được mở hơn nữa để vừa tạo điều kiện cho DN, vừa tránh được cho cơ quan thực thi khó áp dụng.

Góp ý về những trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau, đại diện Cục Hải quan Quảng Ninh cho rằng, theo quy định của Luật Thuế XK, thuế NK thì hàng hóa kinh doanh TN-TX và nguyên liệu NK để sản xuất hàng XK là đối tượng không chịu thuế GTGT. Do vậy, để thống nhất trong chính sách thuế đối với hai loại hình này, dự thảo Nghị định nên loại trừ hàng hóa TN-TX và sản xuất XK ra khỏi việc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế nếu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt.

Một nội dung được đại diện Cục Hải quan Quảng Ninh nhấn mạnh là quy định tại Điều 28 dự thảo Nghị định về thông báo danh mục hàng hóa miễn thuế. Đại diện này cho rằng, dự thảo Nghị định chủ yếu thay thế từ “đăng ký” thành “thông báo”, còn các thủ tục khác để đăng ký miễn thuế cơ bản vẫn giữ nguyên như quy định hiện hành tại Thông tư 38/2015/TT-BTC về tiếp nhận, kiểm tra, xác nhận, trừ lùi danh mục.

Thực tế quá trình thực hiện thủ tục về đăng ký danh mục của một số dự án như hiện nay là rất khó khăn, vướng mắc cho cả DN và cơ quan Hải quan. Do thời điểm đăng ký danh mục DN không có đầy đủ thông tin cụ thể về hàng hóa, nên rất khó để khai báo chi tiết vào danh mục (gồm cả mã số hàng hóa), đặc biệt là đối với các hệ thống máy móc lớn, phức tạp, cơ quan Hải quan rất khó để kiểm tra xem hàng hóa có đủ điều kiện miễn thuế không. Trong khi đó, việc giải quyết miễn thuế theo quy định hiện hành thuộc thẩm quyền của Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục. Nếu vẫn tồn tại một khâu trung gian để kiểm tra, xác nhận danh mục miễn thuế là chồng chéo, không rõ trách nhiệm, không phù hợp với thực tế.

Vì vậy, vị đại diện này kiến nghị, dự thảo Nghị định cần quy định thủ tục tiếp nhận thông báo danh mục hàng hóa miễn thuế dự kiến NK theo hướng đơn giản, với mục đích là để cơ quan Hải quan nắm được thông tin về hàng hóa dự kiến làm thủ tục miễn thuế.

Có cùng quan điểm trên, đại diện Cục Hải quan Hà Tĩnh cho rằng, quy định hiện hành “đăng ký danh mục miễn thuế”, nay dự thảo Nghị định thay bằng khái niệm “thông báo danh mục miễn thuế”, tuy nhiên, nội hàm lại không có thay đổi gì so với hiện hành. Bởi thực tế trong hoạt động có nhiều dự án phức tạp, việc thông báo danh mục chỉ cần thực hiện kiểm tra trong những trường hợp cần thiết. Nếu để nội hàm “thông báo” thì cần phải giảm bớt đi việc kiểm tra của cơ quan Hải quan. Cũng là vừa giảm bớt các quy định về việc tiếp nhận, kiểm tra, xác nhận, trừ lùi danh mục hàng hóa miễn thuế.

Mong muốn tạo thuận lợi hơn cho những DN gia công sản xuất XK được miễn thuế, đại diện Cục Hải quan Bắc Ninh góp ý, quy định về điều kiện miễn thuế tại điểm a khoản 2 Điều 10 dự thảo Nghị định quy định: “Phải có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam: Có quyền sử dụng hợp pháp mặt bằng sản xuất, nhà xưởng (bao gồm cả nhà xưởng gắn liền trên đất đai); có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với máy móc, thiết bị tại cơ sở sản xuất phù hợp với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa XK”. Điều kiện này là quá cao với hầu hết các DN gia công, sản xuất XK, vì vậy, cần xem xét lại các điều kiện để tạo thuận lợi hơn cho DN trong thủ tục hoàn thuế.

Góp ý vào nội dung của dự thảo Nghị định, đại diện Hải quan Hải Phòng cho rằng, một số nội dung tại dự thảo cần phải được quy định chi tiết hơn. Cụ thể, quy định về trị giá miễn thuế, dự thảo cần quy định rõ trị giá miễn thuế là trị giá khai báo hay chỉ đơn thuần là trị giá của hàng hóa?

Bên cạnh đó, quy định về điều kiện chấp nhận bảo lãnh tại dự thảo vẫn chưa có thay đổi gì mới, quy định này cần chặt chẽ hơn để giảm bớt công việc cho cơ quan Hải quan. Đặc biệt là quy định về bảo lãnh chung, dự thảo chưa quy định cụ thể về chứng từ, cơ sở nào để khôi phục bảo lãnh chung. Vì vậy, Ban soạn thảo cần quy định rõ cho hải quan địa phương dễ thực hiện.

Hay như quy định về hoàn trả tiền đặt cọc nộp thừa, theo quy định hiện hành chưa có quy định về hoàn trả tiền đặt cọc… Vì vậy, dự thảo nên quy định rõ việc hoàn trả tiền đặt cọc nộp thừa, trình tự, thủ tục như hoàn trả ra sao? Quy định về thông báo danh mục miễn thuế thời điểm cần sửa là trước khi đăng ký tờ khai hải quan- đại diện này góp ý.

Riêng quy định tại Điều 31 dự thảo Nghị định về kiểm tra trước hoàn thuế sau, đại diện này cho rằng, ban soạn thảo cần quy định rõ 2 nội dung: Tại trụ sở cơ quan Hải quan và trụ sở DN để tránh chồng chéo các đơn vị tới kiểm tra tại DN.

Ý kiến của một số đơn vị hải quan cho rằng, một số hàng miễn thuế theo định mức cần giữ nguyên như quy định hiện hành.

Cụ thể, đối với quà biếu, quà tặng cần giữ nguyên định mức miễn thuế với hàng chuyển qua bưu điện như hiện nay là 2 triệu đồng, bởi nếu quy định mức quà biếu, quà tặng được 1 triệu đồng mới được miễn thuế như dự thảo Nghị định là quá thấp. Đặc biệt là đối với những quà tặng phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phục vụ cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia nên được miễn thuế (không khống chế về số lượng, trị giá), tuy nhiên trước khi thực hiện miễn thuế cần có ý kiến tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ có liên quan.

Đối với  định mức, điều kiện miễn thuế đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới cần giữ như hiện nay là 2 triệu đồng/1 người/1 ngày/1 lượt và không quá 4 lượt/tháng như quy định tại Quyết định 52/2015/QĐ-TTg ngày 20-10-2015. Bởi trên thực tế nhu cầu sinh hoạt của cư dân biên giới, nếu quy định chỉ miễn thuế 1 lượt/1 tháng là chưa đáp ứng được nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa, đảm bảo đời sống của bà con cư dân biến giới.

(Nguồn: Sưu tầm)

Facebook Comments
Posted by | View Post | View Group

Related posts

Leave a Comment

Or